Bát Chánh Đạo

Bát chánh đạo là hành pháp thứ bảy trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Hành pháp Bát Chánh Đạo là pháp môn thật tiễn đại biểu đặc trưng tối quan trọng cho những lời dạy của đức Đạo sư trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Vì pháp môn này là một phương pháp chính xác để hành giả hướng đến Niết-bàn giải thoát, là một con đường ngắn nhất đưa hành giả đến chỗ an vui tịch tĩnh, là con đường được Đạo sư nói ra lần đầu tiên sau khi Ngài thành Đạo tại vườn Nai cho năm anh em Kiều Trần Như bạn tu của Ngài trước đó để tránh xa hai thái độ sống cực đoan giữa đau khổ (khổ hạnh) và, khoái lạc (hạnh phúc) đưa hành giả đến con đường Trung đạo không vướng mắc hai bên.

Bát chánh đạo là con đường của tám nguyên tắc hành động chân chính (Astamaga).  Tám nguyên tắc hành động ấy có liên hệ nhân quả rất mật thiết với nhau như sau:

1.  Chính kiến:  Thấy đúng.

2.  Chính tư duy:  Nghĩ đúng.

3.  Chính ngữ:  Nói đúng.

4.  Chính nghiệp:  Hành động đúng.

5.  Chính mệnh:  Phương tiện mưu sinh chân chính.

6.  Chính tinh tiến:  Cần mẫn và nỗ lực chân chính.

7.  Chính niệm:  Ý thức chân chính.

8.  Chính định:  Thiền định chân chính

Nếu ta chiêm nghiệm và áp dụng tám nguyên tắc trên vào cuộc sống thường nhật ta sẽ thấy tính cách liên hệ nhân quả giữa những nguyên tắc ấy.  Hãy thử xét nguyên tắc thứ nhất là CHÍNH KIẾN.  Ai cũng bảo nếu thấy đúng thì hành động mới đúng, do đó chính kiến là cần thiết cho CHÍNH NGHIỆP.  Nhưng làm thế nào để thấy đúng?  Theo đạo Phật, sự thấy đúng không phải chỉ có thể đạt được do sự học hỏi trong sách vở hay do sự suy tư phân tích bằng trí thức.  Sự thấy đúng là kết quả của kinh nghiệm sống và của sự tu chứng nữa.  Ngày xưa, triết gia Vương Dương Minh của Trung Hoa có xướng thuyết TRI HÀNH HỢP NHẤT, có nghĩa là THẤY và HÀNH ĐỘNG là một.  Do THẤY ĐÚNG mà HÀNH ĐỘNG ĐÚNG, do hành động đúng mà cái thấy càng đúng; hai điều bồi đắp cho nhau.  Ý nghĩa của CHÍNH KIẾN và CHÍNH NGHIỆP trong đạo Phật cũng tương tợ như vậy; nhưng trong bát chánh đạo, không những chỉ có chính kiến và chính nghiệp mà còn sáu nguyên tắc khác nữa, tất cả điều liên hệ với nhau, bồi đắp cho nhau một cách thắm thiết đến nỗi trong tám chi của bát chánh đạo, mỗi chi đều bao gồm cả tám chi.  Chi nào cũng làm nhân và đồng thời làm quả cho bảy chi kia.  Chính kiến không phải là bước đầu, cũng như chính định không phải là bước cuối cùng; tám chi của bát chánh đạo cùng được áp dụng một lượt, do đó nên đạo Phật gọi đây là con đường của TÁM NGUYÊN TẮC HÀNH ĐỘNG CHÂN CHÍNH.

CHÍNH KIẾN là cái thấy về sự thực, sự thực bản thân cũng như sự thực xã hội, sự thực tâm lý cũng như sự thực về vũ trụ.  Chính kiến có nhiều mức độ cao thấp khác nhau tùy theo trình độ sinh hoạt và tu chứng của con người.  Mức cao danh của chính kiến gọi là vô thượng chính đẳng chính giác (Anuttara-samyak-sambodhi) tức là tri giác cao tột của Phật.  Đối với người tu Phật, chính kiến cần phải được khai mở và phát triển mãi mãi bằng học tập và thực hành.  Quán sát đạo lý duyên khởi và áp dụng đạo lý ấy trong mọi lãnh vực của sự sống, ta sẽ nâng cao dần tầm chính kiến của ta.

CHÍNH TƯ DUY là nghĩ đúng, và nghĩ đúng ở đây có nghĩa là suy tư phù hợp với đạo lý duyên khởi.  Ví dụ như ta muốn có một cái nhìn chính xác về tình trạng xã hội trong đó ta đang sống.  Ta phải theo nguyên lý duyên khởi mà tìm ra mọi nguyên nhân xa gần, những nguyên nhân hiển nhiên hoặc bị che dấu, ta mới có thể đạt được tới cái nhìn chính xác ấy.  Nếu ta chỉ tùy theo thói quen, thành kiến và khuynh hướng đơn giản hóa vấn đề, ta sẽ không thấy được đúng, và do đó vì không có chính tư duy nên ta không đạt tới được chính kiến.  Kết luận là ta phải biết tư duy theo nguyên lý duyên sinh.

CHÍNH NGỮ là nói đúng, và nói đúng ở đây có nghĩa là phát biểu sự thực căn cứ trên nguyên lý duyên sinh.  Bất cứ một phát biểu nào của ta mà không phù hợp với nguyên lý duyên sinh đều không phải là chính ngữ.  Lời nói là một hình thức của hành động gọi là khẩu nghiệp.  Lời nói là dụng cụ để diễn tả điều ta thấy và nghĩ; nếu thấy sai và nghĩ sai thì nói cũng sai.  Mà khi ta nói sai, ta gây tác động lầm lạc cho chính ta và cho người khác.  Lời nói không những cần phải diễn tả sự thực mà còn nhắm đến sự xây dựng; ta phải thấy tất cả hậu quả của lời ta nói.  Chỉ khi nào thấu được lý duyên sinh ta mới biết nói những lời có thể khai thị sự thực, tạo nên hòa khí, làm tiêu tan không khí nghi kỵ, oán thù và sợ hãi quanh ta.

CHÍNH NGHIỆP là hành động đúng, ở đây cũng có nghĩa là hành động phù hợp nguyên lý duyên sinh.  Một hành động thuận theo lý duyên sinh là một hành động chắc chắn đem lại kết quả tốt, một người nông dân biết canh tác theo lý duyên sinh là một người nông dân thông minh, chắc chắn sẽ gặt hái được nhiều hơn những người nông dân khác.  Biết được hết mọi dữ kiện về hạt giống, phân bón, thời tiết, thị trường, người nông dân sẽ có nhiều cơ hội thành công.  Trong gia đình và xã hội biết hành động theo nguyên lý duyên sinh, người Phật tử tạo được hòa khí và thương yêu xây dựng được đời sống an lạc của mình mà không phương hại đến an lạc của kẻ khác.

CHÍNH MỆNH là phương tiện sinh sống chân chính.  Một nghề nghiệp lương thiện, đó là chính mệnh.  Nhưng thế nào là một nghề nghiệp lương thiện?  Điều này cũng chỉ có thể trả lời bằng sự nhận xét về xã hội trên nguyên lý duyên sinh.  Những phương tiện sinh sống không gây tai họa và khổ đau cho kẻ khác trong hiện tại cũng như trong tương lai.  Những phương tiện sinh sống thẳng thắn, không lừa đảo, không gieo rắc lầm lạc, không bóc lột kẻ khác, không vi phạm quyền tự do và bình đẳng kẻ khác, không phá hoại môi trường sinh hoạt của con người:  Đó là chính mệnh.

CHÍNH TINH TIẾN là nỗ lực chân chính tức là sự cố gắng không ngừng trên mọi lãnh vực tu tập.  Đây cũng là một phương diện của sự tu tập theo nguyên lý duyên sinh.  Có khi những nỗ lực của ta không được gọi là chính tinh tiến, chỉ vì những nỗ lực ấy không phải là chính nghiệp, được hướng dẫn bởi chính kiến.  Những nỗ lực trên hướng danh lợi, tham lam hay căm thù đều không được gọi là chính tinh tiến, bởi vì kết quả của những nỗ lực này có thể là khổ đau cho những người khác và do đó là cho chính bản thân mình.

CHÍNH NIỆM là sự nhớ nghĩ chân chính.  Chúng ta đừng lầm chính niệm với chính tư duy.  TƯ DUY là sự suy tưởng trong khi đó NIỆM là sự nhớ nghĩ, trái với sự quên lãng.  Chính niệm là một phương pháp tu luyện rất mầu nhiệm.  Đó là ý thức sáng tỏ về sự sống của chính bản thân mình.  Người Phật tử chân chính là người biết tập sống thường xuyên trong chính niệm, nghĩa là sống có ý thức, biết mình đang làm gì, nghĩ gì, nói gì và do đó có thể soi sáng mọi tư tưởng, ngôn ngữ và hành động mình bằng nguyên lý duyên sinh.  Sống trong sự quên lãng tự để cho mình bị kéo theo ngày tháng và hoàn cảnh mà không tự chủ được, không thấy được mình đang sống, không thấy được sự sống là mầu nhiệm, đó không phải là sống nữa mà là trôi lăn trong sinh tử.

CHÍNH ĐỊNH là phương pháp thiền định chân chính.  Thiền định là sự tập trung ý để đạt tới chính kiến tức là cái thấy chân chính.  Định ở đây không có nghĩa là tư duy hay suy tưởng mà là những phương pháp tập trung tâm ý và thiền quán nhắm phát khởi trí tuệ.  Những phương pháp này không nhắm đến sự tu luyện thôi miên, pháp thuật và trường sinh, mà nhắm đến sự phát hiện tuệ giác giác ngộ nên gọi là chính định.

Theo vwww.thuvien-thichnhathanh.org

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb